Người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi nào?

Hợp đồng lao động là căn cứ mang tính giá trị pháp lý cao nhất giúp cho người lao động yên tâm làm việc, đảm bảo quyền lợi của người lao động một cách tốt nhất. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bộ luật lao động (BLLĐ) năm 2013 cho phép người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, cụ thể:

Tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ quy định, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Theo đó, khi thỏa thuận hợp đồng lao động, người lao động đã đồng ý với người sử dụng lao động về những công việc mà họ có thể làm trong khả năng của mình, từ đó đem lại lợi ích cho cả người lao động lẫn người sử dụng lao động. Tuy nhiên, khi người lao động không thể hoàn thành các công việc mà mình đã nhận và đã được ghi trong hợp đồng, người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động để tránh gây tổn hại không đáng có cho người sử dụng lao động.

                                                                                                     (Nguồn: Sưu tầm)

Một lý do khác được đưa ra là khi người lao động bị ốm đau, tai nạn đã được điều trị trong khoảng thời gian dài và liên tục nhưng không bình phục. Đối với từng loại hợp đồng thì các khoảng thời gian điều trị này được quy định khác nhau, cụ thể: 12 tháng đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 6 tháng đối với hợp đồng xác định thời hạn, quá nửa thời hạn hợp đồng đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc có thời hạn lao động theo hợp đồng dưới 12 tháng. Quy định như vậy là để tránh cho người sử dụng phải chịu tổn thất về kinh tế khi quỹ lương bị phồng ra nhưng người lao động lại không có khả năng đóng góp công sức của mình.

Một lý do không mong muốn khác là khi xảy ra các lý do bất khả kháng (thiên tai, hỏa hoạn…) khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, người sử dụng lao động buộc phải chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động để giảm gánh nặng về lương, cũng đồng thời là để tập trung tốt nhất cho việc hồi phục sản xuất, kinh doanh.

Lý do cuối cùng được đưa ra tại khoản 1 Điều này là khi người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động bao gồm: (1) người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự; (2) người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quyết định của pháp luật tố tụng hình sự; (3) Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc. Theo đó, trong thời gian 15 ngày kể từ khi hết thời hạn tạm hoãn theo các trường hợp trên, người lao động phải đến nơi làm việc và tiếp nhận công việc, trong trường hợp không có mặt, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here