Ai được quyền nộp đơn xin đơn phương ly hôn? 

Ly hôn là sự kiện pháp lý chấm dứt hôn nhân. Theo thống kê, tỷ lệ ly hôn/kết hôn ở Việt Nam là 31,4%, tức là cứ ba cặp kết hôn lại có một cặp ly hôn. Các trường hợp ly hôn có thể xảy ra là thuận tình ly hôn và đơn phương ly hôn. Trường hợp ly hôn xuất phát từ ý nguyện của một bên vợ hoặc chồng thì được gọi là ly hôn đơn phương.

Chỉ khi người nộp đơn chứng minh được việc ly hôn là có căn cứ thỏa mãn điều kiện của pháp luật thì mới được toàn án chấp thuận ra quyết định ly hôn.

Theo Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, vợ hoặc chồng muốn đơn phương ly hôn phải thỏa các quy định sau:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

  1. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
  2. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

– Quyền ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với vợ hoặc chồng, nhưng có phải nọi trường hợp, chỉ có vợ hoặc chồng được sử dụng quyền này? Sau đây là các chủ thể được thực hiện thủ tục nộp đơn đơn phương ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

+ Vợ hoặc chồng;

+ Vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích

+ Cha mẹ hoặc người thân thích khác cũng có quyền nếu một bên vợ hoặc chồng bị mắc bệnh tâm thần, không làm chủ được hành vi đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here