Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự – phần 3

Tiếp tục với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được phân tích tại Phần 1Phần 2, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) còn đưa ra một số tình tiết giảm nhẹ khác tại Điều 46 như:

Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức. Trong trường hợp này, người phạm tội không mong muốn thực hiện tội phạm, nhưng vì bị ép buộc, đe dọa, để tránh một thiệt hại cho bản thân hoặc cho người khác nên đã thực hiện tội phạm. Ví dụ: A vay nợ của B hơn 20 tỷ đồng, đến kỳ hạn nhưng A không thể trả được cho B, B đến nhà A đe dọa bắt phải trả nợ, B buộc A phải làm cho B một số việc phạm pháp như: Gây thương tích cho C (là đối thủ trong kinh doanh của B) thì B mới giảm nợ cho A.

Phạm tội do lạc hậu. Trong trường hợp này, người phạm tội thường có suy nghĩ cổ hủ, tin vào các hủ tục đã có từ xưa nên dẫn đến hành vi phạm tội. Ví dụ: H bị ốm bệnh lâu ngày không khỏi, vì cho rằng H bị ma nhập nên C (là bố của H) đã đã đánh H bằng roi mây tẩm rượu để đuổi ma, hành vi của C đã khiến H bị gẫy một tay và một chân.

Người phạm tội là phụ nữ có thai. Lưu ý, chỉ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này khi người phạm tội đang có thai, còn sau khi phạm tội mới có thai thì cũng không được áp dụng. Ví dụ: L có hành vi trộm cắp và bị bắt sau đó không lâu, trong quá trình thụ lý và điều tra vụ án, L được phát hiện là đang có thai, tuy nhiên thai nhi này được hình thành sau khi L thực hiện hành vi phạm tội, trường hợp này L không được hưởng tình tiết giảm nhẹ đã nêu.

Người phạm tội là người già. Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luật khác không quy định cụ thể người già là người từ bao nhiêu tuổi trở lên, tuy nhiên thường thì độ tuổi 60 sẽ được các Tòa án chọn làm mốc để cho rằng một người đã được coi là người già hay chưa. Ví dụ: A 70 tuổi, phát hiện con dâu ngoại tình nên đã lao vào đánh đập con dâu khiến cô con dâu bị thương tích 22%, vì A là người già nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ này.

–  Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Khác với những người không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, người bị hạn chế nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi vẫn có thể nhận thức được một số sự việc và hành vi của mình. Ví dụ, A được hưởng tình tiết giảm nhẹ này vì trước khi gây án, A có một số hội chứng bênh lý như: suy nhược thần kinh, rối loạn cảm xúc, nói nhiều điều không liên quan…

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here