Các loại tội phạm trong bộ luật hình sự Việt Nam

Theo đó, bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định bốn loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8, bao gồm: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong đó:

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội. Ví dụ: tội Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật tại Điểm a, khoản 1 Điều 176 BLHS, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại khoản 1 và khoản 2 Điều 171 BLHS… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến ba năm tù.

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội. Ví dụ: tội mua bán phụ nữ tại khoản 1 Điều 119 BLHS, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại khoản 1 Điều 134 BLHS, tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em tại khoản 2 Điều 228… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến bảy năm tù.

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội. Ví dụ: tội vô ý làm chết người tại khoản 2 Điều 98 BLHS, tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 2 Điều 111 BLHS, tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 194 BLHS… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là đến mười lăm năm tù.

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội. Ví dụ: Tội giết người theo quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS, tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 133 BLHS, tội cố ý truyền HIV cho người khác theo quy định tại khoản 2 Điều 118 BLHS… Mức cao nhất của khung hình phạt đối với loại tội này là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here