QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNG THỪA KẾ THỨ NHẤT

Trong pháp luật dân sự, quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật dân sự được điều chỉnh trực tiếp bởi các quy định của Bộ luật dân sự. Quan hệ thừa kế tồn tại dưới hai dang là Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Khác với thừa kế theo di chúc, người để lại di sản có thể chỉ định một người khác không phải người thân thích của mình là người hưởng thừa kế. Trong khi đó, việc thừa kế theo pháp luật chỉ chia di sản thừa kế cho người có quan hệ thân thích với người để lại di sản. Việc thừa kế theo pháp luật chỉ xảy ra khi một người chết mà không để lại di chúc. Lúc này, việc hưởng thừa kế của những người thân trong gia đình của người để lại di sản sẽ do pháp luật quy định. Để việc hưởng thừa kế được công bằng, chính xác, pháp luật chia ra các hàng thừa kế. Việc phân hàng thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mối quan hệ, sự gắn bó giữa những người được hưởng thừa kế và người để lại di sản. Cụ thể, theo điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

  1. a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  2. b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  3. c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Theo đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Có thể thấy rằng những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là người có quan hệ huyết thống trực hệ hoặc có quan hệ nuôi dưỡng trực tiếp, có quan hệ thân thiết nhất với người để lại di sản. Sau hàng thừa kế thứ nhất là các hàng thừa kế thứ hai và thứ ba. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trong một hàng thừa kế, những người hưởng thừa kế sẽ nhận các phần di sản bằng nhau. Ngoài ra, pháp luật còn đặt ra quy định về việc hưởng thừa kế thế vị khi người được hưởng thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống (điều 652 Bộ Luật Dân sự)

Ví dụ: Ông A có con trai là B, anh B có vợ là chị C và có con là cháu M.

Sáng ngày 12/02/2018, Anh B có chở ông A trên chiếc xe máy Wave Honda, BKS số: xxx tới Bệnh viện Bạch Mai để khám bệnh cho ông A. Trên đường đi đến bệnh Viện Bạch Mai, anh B và ông A gặp tai nạn giao thông trên trục đường xx giao với đường Giải Phóng. Mặc dù được đưa đi cấp cứu nhưng do vụ tai nạn quá nghiêm trọng nên ông A và anh B không qua khỏi vào thời điểm 13h 30 phút cùng ngày. Ông A chết không để lại di chúc cho con cháu trong gia đình, do đó di sản của ông A được để lại cho vợ và các con. Riêng đối với anh B do chết cùng thời điểm với ông A nên con của anh B là cháu M sẽ được hưởng di sản thừa kế mà anh B sẽ được hưởng nếu còn sống.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here